Đối với người trưởng thành
Cân nặng kg
Chiều cao
met
Kq BMI
Đánh giá
Bảng phân loại
Vi chất dinh dưỡng
Ảnh hưởng của Vi chất dinh dưỡng lên sự phát triển chiều cao
Cập nhật ngày: 16/08/2010 10:38:04 | Lượt xem: 2687

 1.      Ảnh hưởng của thiếu một vi chất dinh dưỡng riêng lẻ và thiếu nhiều vi chất dinh dưỡng đồng thời đến sự  phát triển chiều cao.

Các nghiên cứu tiến hành gần đây về ảnh hưởng của thiếu vi chất dinh dưỡng đến suy dinh dưỡng thể thấp còi, đặc biệt đáng chú ý là ảnh hưởng do thiếu kẽm (zinc), sắt (iron), vitamin A và thiếu iodine. Ví dụ ở Mexico, tỷ lệ thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi vào khoảng 24%, ở vùng nông thôn cao hơn so với thành thị. Trong một nghiên cứu ban đầu, bổ sung kẽm và sắt để xem ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển chiều cao (nghiên cứu theo chiều dọc, thiết kế nghiên cứu có nhóm đối chứng được dùng placebo). Sau 12 tháng được bổ sung, người ta không thấy sự khác biệt giữa nhóm được bổ sung zinc, iron riêng biệt hoặc zinc cộng với iron và nhóm đối chứng. Nghiên cứu ban đầu trước khi can thiệp đã xác định có 82% trẻ em trong nghiên cứu này thiếu ít nhất 2 trong số 5 vi chất dinh dưỡng, 73% trẻ bị thiếu máu. Trong một nghiên cứu khác, một số các vi chất dinh dưỡng khác được bổ sung cho trẻ em trên 12 tháng tuổi ở Mexico- nhóm trẻ đó đã được xác định thiếu vi chất dinh dưỡng (nghiên cứu theo chiều dọc, có nhóm chứng được dùng placebo). Trẻ em ở nhóm hộ gia đình tình trạng kinh tế xã hội thấp và trung bình có mức tăng chiều cao nhiều hơn 1cm so với nhóm trẻ tương ứng ở nhóm placebo. Nhưng sự khác biệt như trên không thấy ở nhóm trẻ thuộc các hộ gia đình tình trạng kinh tế xã hội khá. Điều này cho ta thấy, trong hầu hết các trường hợp, suy dinh dưỡng thể thấp còi có liên quan đến nhóm bị đe doạ thiếu một số các vi chất dinh dưỡng hoặc những quần thể bị thiếu nhiều vi chất dinh dưỡng, ảnh hưởng của việc bổ sung một số vi chất một cách riêng lẻ không có ý nghĩa với sự phát triển chiều cao. Bổ sung đa vi chất dinh dinh dưỡng cùng lúc được thấy là có hiệu quả hơn, tuy vậy trong những trường hợp này thì mức tăng thực sự về chiều cao vẫn còn thấp hơn so với mức tăng bình thường ở những nhóm trẻ có điều kiện sống tốt (tức là nhóm trẻ đạt mức tăng theo tiềm năng cho phép).

Thấp còi là một hiện tượng phổ biến nhất của thiếu dinh dưỡng trên thế giới.  Thiếu dinh dưỡng protein-năng lượng được xem là nguyên nhân quan trọng hàng đầu của thấp còi hay còn gọi là stunting (Beaton và Ghassemi 1982, Brooke và Wheeler 1976, Hansen-Smith et al. 1995). Một số các nghiên cứu bổ sung các chất dinh dưỡng vào sữa bò hoặc sữa đậu nành  cho thấy kích thước chiều cao tăng lên sau khi can thiệp (Lampl et al. 1978, Malcolm 1970). Nhưng trong các nghiên cứu đó, người ta không tính chắc chắn  được ảnh hưởng của protein hay của các vi chất dinh dưỡng khác bổ sung vào thực phẩm như phosphorus, calcium, zinc hoặc potassium (kali) có vai trò trong cơ chế sinh bệnh. Người ta cũng thấy rõ ràng là mức gia tăng chiều cao của các đối tượng trong nghiên cứu được tăng cường dinh dưỡng vào sữa và sữa đậu nành ở trên vẫn thấp hơn đáng kể so với mức gia tăng bình thường theo tiềm năng cho phép (Golden 1988), điều này biểu lộ cho thấy các vi chất dinh dưỡng khác hoặc các yếu tố khác có thể có vai trò trong sự phát triển chiều cao cơ thể. Ở một số nhóm cộng đồng, người ta không thấy có mối liên quan giữa khẩu phần ăn nghèo protein và chậm phát triển chiều cao cơ thể (Allen 1994), ma do thiếu vi chất dinh dưỡng nhiều loại đồng thời.  
    
Các nghiên cứu quan sát đã chỉ ra số đối tuợng thiếu vi chất dinh dưỡng ở mức đang bị đe dọa tồn tại khá phổ biến hiện nay và mối liên quan với thấp còi đã là đề tài cho nhiều  nghiên cứu can thiệp (chủ yếu zinc, iron, iodine và vitamin A), mục đích là xem thiếu các vi chất dinh dưỡng như vậy có thể là nguyên nhân của stunting hay không. Các nghiên cứu bổ sung các vi chất dinh dưỡng dẫn tới những kết quả thú vị.  Điểm lại kết quả một số nghiên cứu được tiến hành ở các vùng nông thôn Mexico, kết quả biểu lộ cho thấy stunting xảy ra phối hợp với thiếu một vài các vi chất dinh dưỡng, do đó, việc bổ sung riêng biệt các vi chất dinh dưỡng thường đưa đến ảnh hưởng không đáng kể hoặc không ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao.
 
   
Theo kết quả Điều tra quốc gia năm 1988 ỏ Mexico, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi có chiều cao theo tuổi thấp là 24% (Rivera- Dommarco. 1995). Ở những vùng nông thôn nghèo nhất, tỷ lệ này lên đến 50% ở trẻ em trước tuổi học đường. Tỷ lệ trẻ kém phát triển chiều cao có liên quan rõ rệt với tỷ lệ mắc bệnh và khả năng học tập (Martorell et al. 1992a).  Trong giai đoạn dài sau đó, người ta thấy thấp còi làm giảm khả năng lao động thể lực và sinh đẻ (Martorell et al. 1992a và 1992b).

2.      Ảnh hưởng của bổ sung kẽm và sắt.  

Xem xét mối liên quan tỷ lệ stunting cao ở trẻ em với thiếu zinc, iron (được giả định là làm giảm khả năng phát triển), người ta bổ sung zinc/iron để xác định liệu xem khi cải thiện tình trạng thiếu zinc, iron có ý nghĩa đến tình trạng dinh dưỡng và sự phát triển ở trẻ em trước tuổi học học đường hay không (Rosado et al. 1997).

Bảng 1. Tỷ lệ trẻ em thiếu vi chất dinh dưỡng sau 1 năm đánh giá (1)

Các chỉ tiêu theo dõi

Điều tra ban đầu

Sau 6 tháng

Sau 12 tháng

Retinol

29

5

10

Tocopherol

68

53

53

Hemoglobin

73

45

43

Ferritin

51

27

12

Vitamin B-12

10

3

7

Holo TCII

26

1

7

Zinc

25

-

17

(1) Deficient values: retinol <20 mg/dL; tocophenol <500 mg/dL, hemoglobin <11.7 g/dL; ferritin <12 ng/mL; vitamin B-12 <200 pg/mL; holo TCII <20 pg/mL; zinc <70 mg/dL.

Dựa theo tuổi, giới và có bị thấp còi hay không, tổng số 219 trẻ em từ 18 đến 36 tháng tuổi được chia một cách ngẫu nhiên thành 4 nhóm. Một nhóm hàng ngày được uống bổ sung  20 mL dung dịch chứa 20 mg sắt cần thiết như ferrours sulfate, nhóm 2 uống bổ sung 20 mg kẽm cần thiết như zine methionine, nhóm 3 uống cả hai thứ trên (20 mg sắt cần thiết và 20 mg kẽm cần thiết, nhóm 4 dùng dung dịch không có gì (placebo). Các chất bổ sung được pha vào một loại nước giải khát mùi hoa quả, khi trẻ uống được theo dõi trực tiếp từ ngày thứ hai đến thứ sáu trong tuần trong 12 tháng liền. Các đối tượng nghiên cứu đã chấp thuận với cách làm trên.  97% số trẻ em đã thực hiện đúng, đủ các ngày uống, chỉ 25 trẻ không uống đủ trong 12 tháng .  

Số đo nhân trắc được thu thập ở thời điểm nghiên cứu ban đầu trước khi cho uống bổ sung và 6 và 12 tháng sau đó. Máu ở tĩnh mạch được thu thập ở tất cả trẻ em trước tuổi học đường trong nghiên cứu ban đầu và 6 và 12 tháng sau khi cho uống bổ sung để phân tích hemoglobin, hematocrit, ferritin, zinc, retinol, C-reactive protein, a-tocopherol, vitamin B-12 và riboflavin.

Sau 12 tháng được uống bổ sung, chiều cao của trẻ thay đổi từ 8,9 lên 9,3 cm/năm ở tất cả các nhóm và không có sự khác biệt về mức tăng giữa các nhóm. Người ta thấy rằng không có ảnh hưởng của bổ sung sắt và/hoặc kẽm đến sự phát triển chiều cao ngay cả khi kẽm trong huyết thanh và kẽm trong các hồng huyết cầu tăng lên ở nhóm được bổ sung kẽm và ferritin tăng lên ở nhóm được bổ sung sắt.

Mặc dù mọi người đều thừa nhận rằng thiếu kẽm làm chậm tăng trưởng và phát triển, nhưng ảnh hưởng của bổ sung kẽm đến mức tăng trưởng đang gây nhiều tranh cãi. Một vài nghiên cứu kết luận có ảnh hưởng tích cực của bổ sung kẽm đến sự phát triển chiều cao (Gibson 1992, Walravens và Hambidge 1976, Walravens-1983, Xue-Cun-1985), trong khi các nghiên cứu khác lại không tìm thấy ảnh hưởng này (Carter và các cộng sự 1969, Caven và các cộng sự 1993). Trong một phân tích thống kê được tiến hành gần đây - trong đó có tổng kết lại 25 nghiên cứu về bổ sung kẽm - Brown (1995)  phát hiện thấy có ảnh hưởng đồng thời của bổ sung kẽm đến sự phát triển chiều cao (0,2 SD) và cân nặng (0,26 SD). ảnh hưởng của bổ sung kẽm đến sự phát triển chiều cao và cân nặng nói trên đều cùng chiều và nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê.

Ảnh hưởng của tình trạng dinh dưỡng do thiếu sắt đến tăng trưởng thậm chí còn gây nhiều tranh cãi hơn. Angeles (1993) chứng minh ảnh hưởng tích cực của việc bổ sung sắt và ascorbic acid đến sự phát triển chiều cao so với trường hợp chỉ bổ sung mình ascorbic acid. ảnh hưởng này là do tỉ lệ mắc bệnh giảm ở những trẻ được bổ sung sắt. Các nghiên cứu khác không phát hiện thấy ảnh hưởng của bổ sung sắt đến tăng trưởng (Gershoff và các cộng sự 1988, Migasena và các cộng sự 1972).

Ở thời điểm nghiên cứu ban đầu trước khi can thiệp, người ta thấy tỉ lệ trẻ bị thiếu máu, và thiếu ferritin, tocopherol, retinol, vitamin B-12,  và kẽm cao. Trong tổng số đối tượng nghiên cứu, dưới 7% trẻ không thiếu vi chất dinh dưỡng, 11% trẻ thiếu một vi chất dinh dưỡng, 18% trẻ thiếu hai vi chất dinh dưỡng và 64% trẻ thiếu trên hai vi chất dinh dưỡng. Tỉ lệ trẻ thiếu một vài trong số những vi chất dinh dưỡng kể trên cao trong 12 tháng nghiên cứu. Việc bổ sung kẽm và sắt không ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao có thể là do trẻ trong nghiên cứu này thiếu một số chất dinh dưỡng khác, những chất dinh dưỡng này có thể làm chậm tăng trưởng hay làm suy yếu ảnh hưởng tích cực tiềm năng của việc bổ sung kẽm và/hoặc sắt. Nghiên cứu cho thấy rằng, đối với các hoạt động can thiệp nhằm mục đích chống lại sự chậm phát triển ở các quần thể bị nghi ngờ là thiếu nhiều vi chất dinh dưỡng, thì việc bổ sung chỉ một vi chất dinh dưỡng sẽ có ảnh hưởng không đáng kể đến sự phát triển chiều cao.

Bảng 2 so sánh tỉ lệ trẻ em thiếu vi chất dinh dưỡng giữa nông thôn và thành thị; trẻ em thành thị có 264 trẻ (12-43 tháng tuổi) ở các gia đình có tình trạng kinh tế xã hội thấp. Tỉ lệ trẻ em ở thành thị bị thiếu máu và thiếu retinol và tocopherol thấp hơn so với ở nông thôn, điều này liên quan đến chế độ ăn có một số thực phẩm có nguồn gốc động vật và nhiều chất béo hơn (Madrigal và các cộng sự 1986) và tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi thấp hơn của trẻ em thành thị (Rivera-Dommarco-1995).

Bảng 2: So sánh tỉ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em thuộc gia đình có tình trạng kinh tế xã hội thấp giữa vùng nông thôn, thành thị  của Mêhicô.

 

Nông thôn

Thành thị

 

% thiếu

Retinol

29

5

Tocopherol

64

23

Hemoglobin

73

35

Hematocrit

61

20

Ferritin

51

68

1 Deficient values: retinol < 20 ug/dL; tocopherol < 500 ug/dL; hemoglobin < 11,7 g/dL; hematocrit < 30%; ferritin < 12 ng/mL.


3.  Ảnh hưởng của bổ sung đa vi chất dinh dưỡng. 

Nhằm mục đích nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung một số vi chất dinh dưỡng đến sự tăng trưởng, có thể nêu ra nghiên cứu về nhóm trẻ nông thôn Mêhicô (Rivera và các cộng sự, số liệu không xuất bản)[27]. Nghiên cứu được làm mù 2 phía hay còn gọi là mù kép, chọn mẫu ngẫu nhiên,  thực hiện ở một cộng đồng nông thôn thuộc Xoxocotla, bang Morelos. Tổng số 337 trẻ em từ 8 đến 14 tháng tuổi được chia một cách ngẫu nhiên thành hai nhóm. Một nhóm được bổ sung (n = 168) và một nhóm được dùng placebo (n = 169). Cả hai cách làm này đều được theo dõi 6 ngày/tuần trong vòng 12 tháng và được giám sát khi cho trẻ uống. Phần bổ sung chứa các chất dinh dưỡng được biết hay nghi ngờ là thiếu ở trẻ em Mêhicô hay có một vài bằng chứng về khẩu phần ăn thấp (Rosado và các cộng sự 1995a và 1995b). Phần bổ sung bao gồm một chế độ ăn theo khuyến nghị (RDA) có các vitamin D, E, K, niacin, B-1, B-6, folic acid, pantothenic acid, iodine copper, manganese fluoride và selenium; 1,2 chế độ khuyến nghị vitamin A; và 1,5 chế độ khuyến nghị ascorbic acid, riboflavin, vitamin B-12, sắt và kẽm. Các chất bổ sung được pha vào một loại nước giải khát có vị hoa quả cung cấp 30 kcal và không có chất béo hay protein. Placebo cho nhóm chứng là một loại nước giải khát có vị hoa quả cung cấp 30 kcal và không cho thêm các vi chất dinh dưỡng. Cả hai loại bổ sung trên đều được pha chế vào 25-ml nước giải khát có vị hoa quả. Số liệu nhân trắc được đo hàng tháng trong thời gian nghiên cứu, do một nhân viên có chuyên môn thực hiện; z-score được tính cho cả ba chỉ tiêu cân nặng theo tuổi, cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi. Thông tin về đặc điểm hộ gia đình, giá trị một số tài sản của gia đình và giáo dục của bố mẹ được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ ngay từ đầu kỳ nghiên cứu.

Kết quả theo dõi các chỉ tiêu nhân trắc (bảng 3) cho thấy chiều dài sau khi can thiệp của trẻ trong nhóm được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng dài hơn 0,9 cm so với của trẻ trong nhóm placebo. Sự chênh lệch này giảm xuống 0,6 cm khi điều chỉnh tuổi, chiều dài trước khi can thiệp, giới tính và tình trạng kinh tế xã hội. Cả hai giá trị chênh lệch nói trên đều có ý nghĩa thống kê so với nhóm placebo (P < 0,05). Sự chênh lệch giữa nhóm placebo và nhóm được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng tăng lên khi các nhóm được chia theo tình trạng kinh tế xã hội; trẻ em ở nhóm hộ gia đình có tình trạng kinh tế xã hội thấp và trung bình trong nhóm được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng tăng chiều cao nhanh hơn 1 cm so với trẻ em tương ứng ở nhóm placebo. Trong nghiên cứu này, người ta phát hiện thấy ảnh hưởng của bổ sung đa vi chất dinh dưỡng đến sự phát triển chiều cao là cùng chiều và có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, ảnh hưởng này thấp hơn mức tăng trưởng theo kịp bình thường (catch-up growth), điều này cho thấy để xoá bỏ suy dinh dưỡng thể thấp còi một cách hoàn toàn thì cần phải bổ sung thêm nhiều chất dinh dưỡng ngoài các vi chất dinh dưỡng thiếu hụt.

Bảng 3: Kết quả nhân trắc sau 12 tháng bổ sung đa vi chất dinh dưỡng hay placebo 

Biến

Nhóm được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng (n = 168)

Nhóm placebo

n = 167

Tuổi (tháng)

22,9 ± 3,1

22,9 ± 2,8

Chiều dài chung1 (cm)

79,5 ± 3,7

78,9 ± 4,7

Chiều dài ở nhóm gia đình có SES thấp/trung bình1 (cm)

79,2 ± 3,1

78,3 ± 4,2

Chiều dài ở nhóm gia đình có SES cao  cm

79,4 ± 3,2

79,6 ± 3,8

Cân nặng (kg)

10,2 ± 1,2

10,1 ± 1,2

Chiều cao theo tuổi (z-score)1

-1,36 ± 1,0

-1,68 ± 1,1

Cân nặng theo tuổi (z-score)

-1,48 ± 0,9

-1,58 ± 0,9

Cân nặng theo chiều cao (z-score)

-0,87 ± 0,8

-0,78 ± 0,7

Sự khác nhau giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Các kết quả được điều chỉnh theo tuổi, chiều dài trước khi can thiệp, giới tính và tình trạng kinh tế xã hội (SES).

Suy dinh dưỡng thể thấp còi có thể là hậu quả của sự thiếu hụt một hoặc một vài chất dinh dưỡng. Trong các cộng đồng có tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi phổ biến thì trẻ thấp còi có thể thiếu một vài vi chất dinh dưỡng cùng một lúc. Trong một nghiên cứu được tiến hành ở một cộng đồng nông thôn thuộc Mêhicô, 82% trẻ từ 18-36 tháng tuổi thiếu ít nhất 2 trong số 5 vi chất dinh dưỡng được xác định. Các nghiên cứu bổ sung một vi chất dinh dưỡng đưa ra những kết quả trái ngược nhau; vì vậy không có một bằng chứng nhất quán nào về việc bổ sung một vi chất dinh dưỡng sẽ thúc đẩy sự phát triển chiều cao. Đối với trường hợp trẻ em trước tuổi học đường được chứng minh là có sự thiếu hụt nhiều vi chất dinh dưỡng, người ta đã không tìm thấy bất kỳ ảnh hưởng nào đến sự phát triển chiều cao sau 1 năm bổ sung kẽm và/hoặc sắt. Bổ sung đa vi chất dinh dưỡng làm tăng chiều cao đáng kể ở trẻ em. 

Tìm kiếm
Link liên kết



Phần mềm đọc PDF
Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia
© 2009 Viendinhduong.vn
Địa chỉ: 48B - Tăng Bạt Hổ - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội| Email: ninvietnam@viendinhduong.vn
Điện thoại: (84-4) 3971 7090 | Fax: (84-4) 3971 7885 |Số đăng ký: 178/GP-TTĐT. Cấp ngày 10/10/2011
Designed by BICWeb.vn