Hoạt động dinh dưỡng có một vị
trí rất quan trọng trong các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu tại tuyến cơ
sở. Không những thế, các hoạt động dinh dưỡng còn liên quan đến nhiều lĩnh vực
như nông nghiệp, sản xuất thực phẩm, bảo đảm an ninh thực phẩm hộ gia đình, các
dự án giảm nhẹ đói nghèo…nên cần có sự phối hợp liên ngành rộng rãi và cần được
xã hội hóa. Chính vì vậy, các hoạt động dinh dưỡng ở tuyến cơ sở không những là
các hoạt động chăm sóc dự phòng và tăng cường sức khỏe mà còn thể hiện yêu cầu
của các hoạt động phát triển cộng đồng. Để triển khai có hiệu quả các hoạt động
dinh dưỡng, cán bộ y tế cơ sở cần nắm chắc một số điểm sau:
1. Hiểu rõ từng vấn đền cần triển
khai và vì sao cần phải triển khai hoạt động dinh dưỡng trên địa bàn xã/phường
của mình. Như vậy, người phụ trách công tác dinh dưỡng (thường là một cán bộ y
tế của trung tâm y tế xã/phường) cần biết cách phân tích tình hình và trả lời
các câu hỏi cụ thể, chẳng hạn: vì sao phải triển khai phòng chống suy dinh
dưỡng trẻ em; đối tượng của hoạt động này là ai? Có liên quan gì tới các chương
trình chăm sóc sức khỏe ban đầu và hoạt động dinh dưỡng khác.
2. Xác định phương án triển khai:
Muốn triển khai tốt hoạt động dinh dưỡng, người phụ trách cần thảo luận kỹ với
các cán bộ khác trong trung tâm y tế xã để mọi người đều nắm được mục tiêu, nội
dung triển khai. Từ đó, đề xuất phương án triển khai.
3. Người phụ trách gặp gỡ và báo cáo
lãnh đạo xã về yêu cầu, mục tiêu phương án triển khai hoạt động, đề nghị xã hỗ
trợ thêm nguồn lực và tổ chức hợp với các đoàn thể xã hội, ban ngành phối hợp.
4. Tập huấn cho cộng tác viên về nội dung, nhiệm vụ, kỹ thuật
triển khai. Cộng tác viên dinh dưỡng có nhiệm vụ triển khai các hoạt động trong
phạm vi địa bàn của mình. Trên thực tế, mặc dù một số hoạt động dinh dưỡng đã
triển khai trong nhiều năm như “Ngày vi chất dinh dưỡng” song, mỗi lần triển
khai đều đòi hỏi tập huấn lại, phổ biến nội dung nhất là cho các cộng tác viên
mới, nhắc nhở và uốn nắn những thiếu sót.
5. Giám sát và đánh giá hoạt động. Người phụ trách công tác
dinh dưỡng tại cơ sở có trách nhiệm giám sát đầy đủ các hoạt động do cộng tác
viên triển khai, đồng thời phải đánh giá kết quả hoạt động đó một cách cụ thể.
Sau mỗi hoạt động triển khai, cần có cuộc họp với cộng tác viên để rút kinh
nghiệm, khen thưởng kịp thời.
6. Làm báo cáo sau mỗi đợt hoạt động hoặc làm báo cáo định kỳ:
Ngoài báo cáo thêm mẫu hướng dẫn, người phụ trách dinh dưỡng ở cơ sở chuẩn bị
một báo cáo tóm tắt công việc, nhận xét và đề xuất gửi cho Ủy ban nhân dân xã,
các ban ngành đoàn thể. Như vậy các ban/ngành sẽ dễ dàng chia sẻ thông tin, từ
đó tin tưởng và hỗ trợ hơn cho ngành y tế. Thực tế, điểm này chưa được các cán
bộ dinh dưỡng ở tuyến cơ sở quan tâm. Hiện nay, có xu hướng thiên về báo cáo
hiệu quả như tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu máu…mà thường không nêu đã giáo
dục dinh dưỡng bao nhiêu bà mẹ, họ là những ai và tác dụng đến đâu. Đây là điểm
cần khắc phục.
Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh đến mạng lưới cộng tác viên dinh dưỡng. Cộng tác
viên dinh dưỡng nên là các cán bộ y tế thôn bản, học nên là cộng tác viên dân
số - kế hoạch hóa gia đình và nên là những người có điều kiện tốt về kinh tế và
có thời gian tham gia công tác này. Muốn hoạt động dinh dưỡng ở tuyến cơ sở có
hiệu quả cần quan tâm nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cộng tác viên
dinh dưỡng.
Hoạt động dinh dưỡng ở
cơ sở hiện nay đã được thực hiện ở tất cả các xã/phường trong cả
nước, gồm các hoạt động chủ yếu sau đây:
1. Giáo dục truyền thông dinh dưỡng phổ cập cho toàn dân
Đây là hoạt động tiêu biểu của chiến lược quốc gia dinh dưỡng giai đoạn 2001 –
2010. Nội dung chính thức của giáo dục dinh dưỡng là phổ biến “10 lời khuyên
dinh dưỡng hợp lý” đến tận hộ gia đình. Đích của hoạt động này là xây dựng thực
hành chăm sóc dinh dưỡng hợp lý phù hợp với các đối tượng nhằm duy trì và tăng
cường sức khỏe. Hoạt động này đòi hỏi nỗ lực rất lớn của y tế cơ sở.
2. Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em.
Đây là một hoạt động dinh dưỡng quan trọng mà mục tiêu giảm suy dinh dưỡng đã
được ghi vào nghị quyết của các cấp ủy Đảng. Điểm nhấn mạnh ở đây là hoạt động
triển khai không chỉ đòi hỏi đơn thuần về mặt kỹ thuật mà cần sự phối hợp liên
ngành và xã hội hóa cao. Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đòi hỏi những nỗ lực
liên tục và bền bỉ.
3. Phòng chống béo phì và thừa cân.
Đây là một vấn đề dinh dưỡng mới nổi lên nhất ở khu vực đô thị. Bên cạnh phòng
chống suy dinh dưỡng, cần phòng thừa cân và béo phì một cách chủ động thông qua
các hoạt động giáo dục tư vấn và hướng dẫn ăn uống. Nên nhớ rằng thừa cân và
béo phì là gánh nặng dinh dưỡng không kém phức tạp và nan giải như suy dinh
dưỡng; cả hai đều trở thành “gánh nặng kép về dinh dưỡng”.
4. Phòng chống thiếu vitamin A.
Điểm cốt lõi từ nay đến 2005 là tiếp tục duy trì bổ sung vitamin A cho trẻ từ 6
đến 36 tháng, bà mẹ ngay sau đẻ với tỷ lệ bao phủ cao. Chủ đề giáo dục dinh
dưỡng về lựa chọn thực phẩm tại chỗ và thực phẩm có tăng cường vitamin A cần
được khuyến khích. Cần lưu ý cho trẻ bị nhiễm khuẩn như tiêu chảy, viêm đường
hô hấp cấp bổ sung kịp thời vitamin A liều cao theo các phác đồ.
5. Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng.
Thực hiện phác đồ bổ sung viên sắt cho phụ nữ có thai và điều quan trọng là bổ
sung càng sớm càng tốt kể từ khi phát hiện có thai. Quan tâm hơn nữa tới việc
kết hợp với phòng chống nhiễm giun, vệ sinh môi trường và nước sạch.
6. Phòng chống thiếu i-ốt.
Khuyến khích và theo dõi sử dụng muối i-ốt tại gia đình
7. Tăng nguồn thực phẩm tại chỗ.
Trên cơ sở các hiểu biết về dinh dưỡng cần có hoạt động hướng dẫn các gia đình
nuôi trồng tại chỗ tạo nguồn thực phẩm cho bữa ăn và góp phần đảm bảo an ninh
thực phẩm hộ gia đình. Hoạt động này cần có sự phối hợp với ngành nông nghiệp
và các tổ chức khuyến nông.
Tóm lại, các hoạt động dinh dưỡng ở cơ sở là các hoạt động toàn diện nhằm tác
động tới các khâu của mô hình nguyên nhân suy dinh dưỡng và được lồng ghép chặt
chẽ trong các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu.