|
|
Bảng phân loại tình trạng dinh dưỡng
ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN LOẠI TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG NGƯỜI LỚN Theo WHO thì thừa cân là tình trạng vượt quá cân nặng nên có so với chiều cao còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể của lipid trong các tổ chức mỡ tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe [102]. Có nhiều chỉ số có thể dùng để đánh giá tình trạng thừa cân - béo phì. Trên cộng đồng, để đánh giá mức độ thừa cân - béo phì, người ta thường dùng chỉ số khối cơ thể BMI = W (kg) / H2 (m) dựa theo cách phân loại của P.S.Shetty và W.P.T.James và được tổ chức WHO khuyến nghị như sau:
Bảng 1 : Phân loại TTDD dựa theo thang phân loại của WHO

 Theo Tiểu ban công tác về béo phì của Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình dương và Hội đái tháo đường Châu Á thì: đối với người Châu Á, các nguy cơ của béo phì tăng lên ở ngưỡng BMI thấp hơn so với phân loại quốc tế, do đó đã đề nghị thang phân loại sau:
Bảng 2 : Phân loại TTDD dựa theo thang phân loại của Hội đái tháo đường Châu Á
Tình trạng dinh dưỡng
| Chỉ số BMI
| Thiếu năng lượng trường diễn
| BMI < 18,5
| Bình thường
| 18,5 ≤ BMI < 23
| Thừa cân
| BMI ≥ 23
| Tiền béo phì
| 23 ≤ BMI < 25
| Béo phì độ I
| 25 ≤ BMI < 30
| Béo phì độ II
| 30 ≤ BMI < 35
| Béo phì độ III
| BMI ≥ 35
|
Tỷ số vòng eo/vòng mông cũng có giá trị để đánh giá sự phân bố mỡ. Do đó chỉ số này được sử dụng để đánh giá tình trạng béo phì. Khi tỷ số vòng eo/vòng mông vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì được coi là béo trung tâm. Người ta còn nhận thấy số đo vòng eo thường không liên quan đến chiều cao, có liên quan chặt chẽ đến BMI và tỷ số vòng eo/vòng mông và vì thế được coi như là chỉ tiêu đơn giản để đánh giá khối lượng mỡ bụng và mỡ toàn bộ cơ thể. Người ta thấy các nguy cơ tăng lên khi vòng eo > 90 cm đối với nam và > 80 cm đối với nữ.
Một phương pháp khác để xác định lượng mỡ cơ thể là đo tỷ lệ mỡ cơ thể dựa trên nguyên lý đo điện trở sinh học. Trên cơ sở điện trở sinh học đo được thông qua việc tiếp xúc giữa các điện cực và bàn tay/bàn chân đối tượng, máy đo sẽ tính toán % mỡ dựa vào cân nặng, chiều cao, tuổi và giới của đối tượng. Phân loại béo phì theo ngưỡng >25% đối với nam và nữ >30% là béo phì.
ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN LOẠI TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ EM
Phát hiện SDD trẻ em
- Đơn giản nhất là dùng biểu đồ tăng trưởng đánh giá cân
nặng của trẻ theo độ tuổi. Biểu đồ tăng trưởng được đính kèm trong sổ theo dõi
sức khỏe trẻ em, cấp cho mỗi trẻ sau sinh và dùng đến 6 tuổi. Hàng tháng trẻ sẽ
được cân đo tại các cơ sở y tế địa phương, ghi nhận cân nặng vào biểu đồ và vẽ
đường phát triển cân nặng theo tuổi. Trẻ được xem là có nguy cơ suy dinh dưỡng
nếu đứng cân liên tục trong vòng 3 tháng, đường phát triển cân nặng theo tuổi
đi theo hướng nằm ngang. Trẻ suy dinh dưỡng nếu đường phát triển cân nặng theo
tuổi nằm bên dưới đường chuẩn của biểu đồ.
- Tuy nhiên để đánh giá dinh dưỡng toàn diện cần có ít
nhất 3 chỉ số:
- Cân nặng theo tuổi
·
- Chiều cao theo tuổi
·
- Cân nặng theo chiều cao
Các chỉ số này sẽ được so sánh với bảng đánh giá tình trạng
dinh dưỡng được Tổ Chức Y Tế Thế Giới khuyến cáo áp dụng năm 2006.
Một số chỉ số nhân trắc khác cũng được dùng để phát
hiện đánh giá suy dinh dưỡng như số đo vòng đầu, vòng cánh tay... nhưng thời
gian sau này ít được áp dụng do không cụ thể, chi tiết và không chính xác vì
phải phụ thuộc vào cách đo, kỹ năng thực hành...
Phân loại SDD trẻ em trên lâm sàng dựa trên các chỉ số
nhân trắc
Suy dinh dưỡng : Chỉ số cân nặng theo
tuổi < –2SD so với quần thể tiêu chuẩn WHO-2006. Chỉ số này biểu hiện một tình
trạng thiếu hụt về dinh dưỡng nhưng không đánh giá được tình trạng thiếu hụt đó
xảy ra trong khoảng thời gian này hay từ trước. Dù vậy đây vẫn là chỉ số dễ áp
dụng nhất trong cộng đồng nên vẫn thường được dùng như một chỉ số chuẩn đánh
giá tình trạng thiếu dinh dưỡng của cộng đồng trong tất cả các cuộc điều tra về
dinh dưỡng và dùng để phát hiện sớm tình trạng thiếu hụt chất dinh dưỡng. Sau
khi có hướng chẩn đoán suy dinh dưỡng dựa trên các chỉ số còn lại để đánh giá
tình trạng suy dinh dưỡng.
- Suy dinh dưỡng cấp: Chỉ số chiều cao
theo tuổi bình thường, nhưng cân nặng/chiều cao <-2SD, biểu thị suy dinh dưỡng mới diễn ra, và chế
độ ăn hiện tại chưa phù hợp với nhu cầu.
- Suy dinh dưỡng mãn đã phục hồi: Chiều cao
theo tuổi <-2SD nhưng cân nặng theo chiều cao bình thường. Phản ảnh sự thiếu
dinh dưỡng đã xảy ra trong một thời gian dài, nặng và sớm vì đã gây ảnh hưởng
trên sự phát triển tầm vóc của trẻ. Nhưng tình trạng dinh dưỡng hiện đã phục
hồi, ở những đối tượng này cần thận trọng với nguy cơ béo phì vì chiều cao
thấp.
- Suy dinh dưỡng mãn tiến triển : Chiều cao
theo tuổi < -2SD và cân nặng theo chiều cao cũng <-2SD chứng tỏ tình
trạng thiếu dinh dưỡng đã xảy ra trong quá khứ và tiếp tục tiến triển đến hiện
nay.
- Suy dinh dưỡng bào thai : Đánh giá dựa
vào cân nặng <2500g, chiều dài < 48cm và vòng đầu <35cm sau khi trẻ
chào đời.
Đânhs giá mức độ SDD trẻ em
Có 3
mức độ suy dinh dưỡng: Nhẹ, vừa và nặng
- Ở tất cả các loại suy dinh dưỡng kể trên, khi có một
chỉ số <-2SD là suy dinh dưỡng nhẹ, <-3SD là suy dinh dưỡng vừa, <-4SD
là suy dinh dưỡng nặng
- Đối với suy dinh dưỡng bào thai, chỉ giảm cân nặng là
suy dinh dưỡng nhẹ, giảm cân nặng và chiều cao là suy dinh dưỡng vừa, giảm cả
cân nặng, chiều cao, vòng đầu là suy
dinh dưỡng nặng.
Bảng phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ
em (WHO-2006), các bạn vào đường link dưới đây để tải về:
Tham khảo Tiêu chuẩn phát triển Cân nặng, Chiều cao của trẻ < 5 tuổi (WHO-2006) tại đây !
|
Link liên kết
|